Muồng hoa pháo vừa làm cảnh vừa làm thức ăn chăn nuôi

mai vu duy

Thành viên
Mình xin giới thiệu cây Muồng hoa Pháo vừa có tác dụng làm cảnh vừa có thể trồng làm cây thức ăn cho gia súc, có khả năng phát triển tốt trong điều kiện đất đai kém dưỡng chất, những vùng đất cát và đất chua có pH < 4,5 đây là một trong những đặc điểm tốt của cây để phát triển vì ở ĐBSCL nhóm đất phèn chiếm tới hơn 88 % diện tích đất phèn trong cả nước. Còn làm cảnh, hiện tại mình chỉ thấy Đà Lạt có trồng một số nơi. Bài này mình biên tập từ nhiều nghiên cứu trên thế giới lẫn Việt Nam, mong có thể đóng góp nho nhỏ cho anh em nào quan tâm đến cây trồng nông nghiệp.




Hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của đàn gia súc nhai lại, để giải quyết nhu cầu thức ăn thô xanh cho gia súc ăn cỏ ở nước ta hiện nay đang có ba thử thách lớn. Thứ nhất là sự mất cân đối thức ăn thô xanh giữa các mùa, dư thừa thức ăn thô xanh vào mùa mưa, phụ phẩm lúc thời vụ và thiếu thức ăn lúc giáp vụ và mùa khô. Thứ hai là chất lượng nguồn thức ăn thô xanh cho vật nuôi ăn cỏ còn rất thấp dể dẩn đến mất cân đối dinh dưỡng trong khẩu phần. Thứ ba là tình trạng ít tận thu nguồn lợi lớn từ phụ phẩm nông, công nghiệp làm thức ăn chăn nuôi.

Tại Việt Nam, nguồn thức ăn (TA) thô xanh cho gia súc ăn cỏ hiện nay là cỏ tự nhiên, cỏ trồng và phụ phẩm nông nghiệp. Cỏ trồng phổ biến là các giống cỏ Voi, cỏ Ghinê, Ruzi…, đều là các giống cỏ hòa thảo dễ trồng cho năng suất (NS) cao. Tuy nhiên, cỏ hòa thảo có giá trị dinh dưỡng không cao đặc biệt là thành phần protein, điều đó đã ảnh hưởng đến NS của vật nuôi. Vì vậy giải pháp hiện nay là bổ sung TA tinh khác giàu protein hoặc sử dụng cây TA họ đậu trong khẩu phần của gia súc ăn cỏ. Trong đó, giải pháp thứ hai mang lại nhiều ưu điểm hơn do chi phí thấp. Ngoài ra, trồng cây TA họ đậu còn có thể chế biến bột cỏ phục vụ cho chăn nuôi gia cầm và còn có tác dụng cải tạo đất do bộ rễ của chúng có khả năng cố định đạm từ nitơ khí trời. Theo Nguyễn Hồng Nhân (2008), cây Muồng hoa pháo (Calliandra calothyrsus), Bình Linh (Leucaena leucocephala), Flemingia macrophylla, Anh Đào Giả (Gliricida sepium) là những cây họ đậu có khả năng phát triển làm thức ăn cho gia súc có chất lượng cao tại Tây Nam Bộ.

Muồng hoa pháo (Calliandra calothyrsus) là cây họ đậu được nhập nội vào Việt Nam trong những năm gần đây có năng suất cao và góp phần vào việc tăng năng suất cho gia súc, cây cho năng suất sinh khối cao (40 - 45 tấn/ha/năm); lá và cành non rất giầu đạm (23,29% CP/DM) nên làm thức ăn tốt cho gia súc. Cây Calliandra calothyrsus cho năng suất đạt tốt nhất khi trồng so sánh với Bình linh (Leucaena leucocephala)s và Flemingia macrophylla (Nguyễn Thị Hồng Nhân và ctv., 2012). Muồng hoa pháo đề kháng với hầu hết các sâu bệnh và có thể trở thành một giải pháp thay thế hữu ích cho cây Bình linh vì Bình linh thường bị nhiễm rệp sáp (Psyllids) với tỉ lệ rất cao (MacQueen, 1991). Ngoài ra, cây Calliandra calothyrsus được xem có nhiều ưu thế hơn cây Anh Đào Giả vì cây Anh đào giả có những hạn chế như chứa các chất độc và các chất kháng dinh dưỡng như chất coumarin (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004), tannin, canavanin và những dẫn xuất khác họ hàng với nó (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2010).

Thí nghiệm của Hu và ctv. (1983), Mai Vũ Duy và ctv. (2012) Calliandra calothyrsus có khả năng phát triển tốt trong điều kiện đất đai kém dưỡng chất, những vùng đất cát và đất chua có pH < 4,5 đây là một trong những đặc điểm tốt của cây để phát triển vì ở ĐBSCL nhóm đất phèn chiếm tới hơn 88 % diện tích đất phèn trong cả nước. Ngoài ra, cây Muồng hoa pháo có vai trò cải thiện tính chất hoá học của đất (Gichuru và Kang 1989). Theo Nguyễn Viết Khoa (2006), cây mọc nhanh có bộ rễ phát triển, có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm có tác dụng che phủ bảo vệ và cải tạo, tăng mùn và đạm trong đất.

Mai Vũ Duy (Biên tập, trích 1 phần trong nội dung gồm nhiều vấn đề khác trên cây Muồng hoa pháo của Duy)

Tham Khảo từ những nghiên cứu
Tiếng Việt
Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà Nội.

Mai Vũ Duy và Nguyễn Thị Hồng Nhân. 2012. Bước đầu khảo sát đặc tính nông học và năng suất của cây Calliandra calothyrsus. Tạp chí KHKT Chăn nuôi Số 5, 2012

Nguyễn Thị Hồng Nhân , Nguyễn Văn Hớn và Mai Vũ Duy. 2012. So sánh năng suất, giá trị dinh dưỡng, khả năng thích nghi của Leucaena leucocephala, Calliandra calothyrsus Flemingia macrophylla. Tạp chí KHKT Chăn nuôi Số 5, 2012

Nguyễn Thị Hồng Nhân. 20010. Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng phát triển cỏ họ đậu làm thức ăn gia súc chất lượng cao tại Tây Nam Bộ. Tạp chí KHKT Chăn nuôi Số 10, 2010

Nguyễn Thị Hồng Nhân. 2010. Giáo trình cây thức ăn gia súc. Khoa Nông Nghiệp & SHUD. Đại học Cần Thơ.

Nguyễn Viết Khoa, Trần Ngọc Hải, Nguyễn Hữu Hồng và Vũ Văn Mễ. 2006. Cẩm nang ngành Lâm Nghiệp. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.

Nước Ngoài

Chang, B. and Martinez, H. 1984. Germplasm resources of Calliandra calothyrsus Meissn. in Central America and Panama. Forest Genetic Resources Information, FAO, Rome, 13, 54-58.
Gichuru, M.P. and Kang, B.T. 1989. Calliandra calothyrsus (Meissn.) in an alley cropping system with sequentially cropped maize and cowpea in southwestern Nigeria. Agroforestry Systems, 9:191-203.
Hu, T.W., Cheng, W.E and Shen, T.A. 1983. Growth of the seedlings of four leguminous tree species in relation to soil pH in a pot test. Nitrogen Fixing Tree Research Reports, 1:24-25.
MacQueen, DJ. 1991. Exploration and collection of Calliandra calothyrsus as a foundation for future genetic improvement. Nitrogen Fixing Tree Research Reports 9, 96-98.
 
Top