PDA

Xem chế độ đầy đủ : Phân bón và tưới nước cho cây phong lan (ST)


dangkhoa
08-05-2009, 06:40 AM
Phân bón và tưới nước cho cây phong lan

Tuesday, 17. April 2007, 03:12:49

CLB sinh vật cảnh
Nhiều người lầm tưởng rằng cây Phong Lan chỉ cần có khí trời và nước là có thể sống và phát triển được. Thật ra, cây Phong lan cũng như tất cả các loại cây trồng khác đều phải có đầy đủ chất dinh dưỡng và kích thích tố. Nhìn chung, một cây Phong lan (cả lan rừng lẫn lan cấy mô) đều cần rất nhiều nguyên tố, trong đó nổi bật các nguyên tố da lượng như N (Đạm), P (Lân) và K (Kali) và các nguyên tô vi lượng như Fe (Sắt), Cu (Đồng), Ma (Ma ngan), Bo (Bo), Mo (Molibden)...

Ngoài ra Phong lan cũng cần phải có đầy đủ các nguyên tố bổ sung như Ca (Calci), Mg (ma giê), S (sunphua)... Mỗi một loại nguyên tố đều có giá trị dinh dưỡng riêng của nó, không thể thiếu được.

Ví dụ, đạm cần cho việc đảm bảo Protein và Nuleoprotein trong tế bào, giúp cho sự tăng trưởng của cây (nhất là ở lá) và sự hô hấp. Cây Phong lan thiếu đạm sẽ cằn cỗi, yếu, không xanh tươi và lá nhỏ, hơi vàng. Còn lân rất cần cho sự quang hợp, giúp cho việc tăng cường sự chuyển hóa năng lượng trong cơ thể, làm cây chóng ra rễ, nẩy mầm khỏe và sớm có hoa.

Thiếu lân, cây Phong lan sẽ kém tăng trương, cây nhỏ, sức đề kháng kém, lá xanh pha tím, rễ ít, chậm ra hoa. Còn Kali đảm bảo sự vận chuyển nước và các chát dinh dưỡng trong
cây, luân lưu sự điều hòa như quang hợp, phân hóa tế bào, làm cho cây dự trữ được chất dinh dtfơng. Nếu thiếu Ka li, cây ngừng phát triển, khô dần, lá úa vàng dễ rụng.

Hiện nay, do việc nuôi trồng Phong lan đã đi vào sản xuất công nghiệp, do đó rất nhiều cơ sở sản xuất đã pha sẵn các dung dịch dinh dưỡng để bón cho cây, trong đó chủ đạo gồm 3 nguyên tố chủ yếu N, P, K với các nguyên tố vi lượng bổ sung thích hợp. Phong lan sau khi được đưa ra khỏi chai cấy mô sẽ phát triển quả 4 giai đoạn với 4 chế độ dinh dưỡng khác nhau:

- Phong lan dưới 3 tháng tuổi, phân bón chủ yếu là đạm, còn lân và kali cũng dùng, nhưng rất loãng. Cụ thể Phong lan 2 tháng dùng 3 g đạm pha trong 10 lít nước và tưới mỗi tuần 1 lần... Phong lan 3 tháng, dùng 5 g đạm trong 10 lít nước và tưới 10 ngày 1 lần (có thể pha loãng bằng một nửa và tưới sát ngày hơn).

- Phong lan từ 4 tháng đến 10 tháng tuổi, dùng cả 3 loại nguyên tố, với công thức N = 3, P = 1, K : 1. cụ thể là: 10g N + 3g P + 3g K pha trong 10 lít nước và cứ 15 ngày tưới 1 lần (có thể pha loãng một nửa và tưới 1 tuần 1 lần).

- Phong lan từ 10 tháng đến 16 tháng tuổi, dùng cả 3 nguyên tố như nhau (N = 2, P = 2, K = 2) cụ thể là : 6g N + 6g P + 6g K, pha trong 10 lít nước, 15 ngày tưới 1 lần (có thể pha loãng một nửa và một tuần tưới một lần), kết hợp pha thêm nguyên tố vi lượng.

- Phong lan từ 16 tháng tuổi trở lên, cho đến khi ra hoa, dùng công thức N = 1, P = 2, K = 3. Cụ thể là 5g N, 10g P, 15g K pha chung trong 10 lít nước, nửa tháng tưới 1 lần (có thể pha loãng một nửa và tưới tuần 1 lần) dùng nhiều nguyên tố vi lượng hơn.

Về nguồn phân vô cơ này, có thể dùng các loại cho phù hợp với Phong lan như N nên dùng (NH4)2SO4 21% N (Sulphat amnonium, hơi chua, Phong lan dễ tiếp thu. Về P nên dùng [CaH4(PO4)2CaSO4 (Super lân) 20% P2O5 dễ tan nên Phong lan hấp thu được ngay. Về K nên dùng SO4K2 (sulphat Kali). Còn các nguyên tố khác như Ca thì dùng Ca(NO3)2 (không nên dùng vôi trắng); Mg thì dùng MgSO4 hay MgHPO4; Fe nên dùng sắt tam FeCl3; còn Cu nên dùng đồng nhị CuCl2; Zn có thể dùng cả ZnCl2 Và ZnSO4; Cũng như Ma dùng cả MnCl2 và MnSO4. Ngoài ra, có thể pha thêm một ít các vitamin (loại C và B) các chất kích thích tố như 2,4 D, Giberalin, Citokinin...

Khi Phong lan đã trưởng thành (nhất là các loài Phong lan rừng giai đoạn sinh trưởng khá dài) có thể dùng các loại phân hữu cơ. Thông dụng có thể dùng nước tiểu (pha thật loãng 1/20 và mỗi tuần tưới 2 lần), phân các loài động vật (phân bò, lợn...) ngâm trong nước cho thật mục, lọc lấy nước rồi tưới cho cây (1 phần phân hòa với 30 phần nước). phân chuồng rất giàu các chất N, P, K cùng với các nguyên tố vi lượng cần thiết, nó rất thích hợp cho các loài Phong lan trồng ở luống (trong đó phân bò và phân lợn, được xem là thích hợp nhất). Phân bò tươi có tác dụng ủ mát và kích thích rễ Phong lan phát triển, nếu để hoại sẽ mất đi nhiều chất cần cho cây.

Còn phân lợn có thể bón cho Phong lan trồng ở chậu lớn vừa phân) vừa nước tiểu lợn, nó cũng có tác dụng rất lớn đến sự tăng trưởng của rễ Phong lan, tuy nhiên chỉ nên dùng mỗi
tháng một lần, và đối với Phong lan mới trồng nên pha nồng độ thật loàng (1 phần phân với 100 phần nước).

Ngoài các loài phân chuồng, ngày nay còn dùng rộng rãi các loại phân chim, phân dơi, phân tằm. Chúng đều có lượng N, P, K khá cao, các yếu tố) vi lượng đầy đủ và đặc biệt có cấu trúc tơi, mịn, rất dễ trong việc bón gốc Phong lan. Mỗi chậu Phong lan lớn có thể bón 20 - 30 g mỗi lần và giữ được lâu mới phải bón lại.

Một số nghệ nhân nuôi trồng Phong lan còn dùng khô dầu (bã đậu phộng ép khô) và các xác bã động vật (tôm, cá, lông gà vịt) và mạnh dạn hơn còn dùng cả huyết khô. Các chất hữu cơ này đều ngâm trong nước cho nên men. Để ít ngày cho thật hoại và hết mùi thối. Lọc lấy phần nước, pha loãng mới đem dùng.

Mặc dù dùng loại phân nào, nhưng cách tưới phân vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng, dùng nhiều quá một loại, hay tưới dài ngày quá cũng trây ảnh hưởng không tốt đến cây Phong lan.

Thời gian để tưới phân tốt nhất trong ngày hoặc vào buổi sáng sớm hay vào buổi chiều, không nên tưới vào buổi trưa. Tuy nhiên tùy theo mùa mưa mà có thể di chuyển lục tưới
phân cho lợi. Phải theo dõi "dự báo thời tiết" để tránh tưới phân vào lúc có mưa (mặc dù vào buổi sáng hay chiều). Thời gian cách nhau để tưới phân cũng hết sức quan trọng, và phải tưới phân từ nồng độ thấp tăng dần lên nồng độ cao, trong quá trình tưới phân cần theo dõi xem xét hình dạng ngoài cây Phong lan mà điều chỉnh lượng phân tưới. Trung bình chỉ nên
tưới mỗi tuần một lần (nó còn tùy thuộc vào mùa mưa hay mùa khô, tùy thuộc vào nơi ít nắng hay dâm mát). Xen kẽ với các ngày tưới phân, cần bổ sung các ngày tưới nước cho hợp lý.

Nước tưới Phong lan không cầu kỳ lắm như mọi người tưởng trước đây, miễn sao nước thật sạch, không mặn, không lợ là được. Tuy nhiên, tốt nhất nên dùng nước mưa vì độ ph - 6 - 7, rất phù hợp với rễ Phong lan còn non. Sau đó có thể dùng đến nước giếng (cần tránh nước cứng), nước ao hồ, sông, rạch (chú ý độ ph và độ sạch của nước). Cuối cùng phổ thông và tiện lợi nhất vẫn là dùng nước máy, chỉ cần chú ý đến độ clor trong nước (để nước trong chum vại ít ngày cho bay hết clor).

Cách tưới nước cũng cần chú ý. Tốt nhất dùng vòi với các lỗ nhỏ và tưới vọt lên cao, hạt nước nhỏ li ti theo gió rơi nhẹ xuống cả cây Phong lan. Một số người có tập quán nhúng
ngập đến miệng chậu Phong lan vào chậu nước lớn. Làm như vậy nước thấm đều vào trong từng kẽ than, kẽ gạch và ướt hết cả sơ dừa. Tuy nhiên vì nhúng nhiều chậu Phong lan rồi mới thay nước, bệnh cây dễ lây lan từ cây này sang cây nọ Nguyên tắc tưới nước phải nhiều, đậm nhưng phải dần dần cho thấm đều, tránh dội nước ào vào cây Phong lan lượng
nước nhiều nhưng ngấm ít và có khi làm thương tổn cây. Tưới nước cũng nên làm vào buổi sáng và sao cho cây được ẩm ướt suốt cho đến chiều mới phải tưới bổ sung. Vào mùa khô, nếu trồng Phong lan nơi có độ nóng cao, chỉ nên làm ẩm ướt toàn bộ môi trường xung quanh, đừng tưới riêng cho cây Phong lan vì xưng quanh nóng sẽ phả hơi khô làm cây bị ngập. Lượng nước tưới tùy thuộc theo mùa. Đặc biệt trong mùa mưa phải đón giờ mưa để tránh khỏi mắc công vừa tưới nước, vừa làm cây bị ngập úng. Riêng đối với các loài trồng thành luống, phải tùy theo loại đất cô giữ nước hay không mà tưới sao cho vừa đủ. Cộng vào đó cần ủ gốc bằng rơm để giữ độ ẩm được lâu

liema.tranhuy
23-08-2009, 04:05 PM
Xin cho biết cây den.Burana sao khi kích hoa và vừa lú vòi hoa thì xịt loại phân gì để nuôi dưỡng hoa?

vunguyen
23-08-2009, 06:34 PM
cũng nhiều loại lăm...rong biển pha chung với thuốc trừ sâu đó bạn,

kentxiii
30-09-2009, 04:07 PM
cảm ơn bài viết hữu ích của bạn,sẳn tiện bạn vui lòng chỉ hộ mình là khi nhú cây con mình nên tưới 30-10-10 nhiều hơn hay là nên tưới 20-20-20 nhiều hơn như một bài viết của một bạn từng đăng:tưới phân 20-20-20 cho đến khi cây con được 2 tấc thì đổi wa dùng loại 30-10-10 và phân hữu cơ.mình trồng lan cũng được 1 năm, hiện nay cây hồ điệp,vanda và đenro dang ra hoa nhưng cây khôg được cao và mập mạp như lúc mới mua ở tiệm về.Mong các bạn chia sẽ chút kinh nghiệm về việc bón phân!xin chân thành cảm ơn!

dangkhoa
02-10-2009, 04:53 PM
Trong quá trình cây ra mầm và đang lớn thì nhu cầu đạm cao hơn tất cả, nên mình sử dụng 30-10-10 là tốt nhất . Bạn có thể tham khảo thêm bài "Vai trò của các nguyên tố khoáng."

khietcsc
03-10-2009, 11:00 AM
cảm ơn bài viết hữu ích của bạn,sẳn tiện bạn vui lòng chỉ hộ mình là khi nhú cây con mình nên tưới 30-10-10 nhiều hơn hay là nên tưới 20-20-20 nhiều hơn như một bài viết của một bạn từng đăng:tưới phân 20-20-20 cho đến khi cây con được 2 tấc thì đổi wa dùng loại 30-10-10 và phân hữu cơ.mình trồng lan cũng được 1 năm, hiện nay cây hồ điệp,vanda và đenro dang ra hoa nhưng cây khôg được cao và mập mạp như lúc mới mua ở tiệm về.Mong các bạn chia sẽ chút kinh nghiệm về việc bón phân!xin chân thành cảm ơn!

Nếu là cây trưởng thành nhảy cây con thì tưới 20-20-20 hay hơn tưới 30-10-10. Vì cây con ăn dinh dưỡng từ cây mẹ để phát triển, mà cây mẹ khi đã trưởng thành thì nên tưới 20-20-20 đều để cây ko thừa đạm, tránh tình trạng cây thừa đạm ko ra hoa mà chỉ nhảy con.
Chỉ dùng 30-10-10 với cây tách chiết và cây cấy mô.
P/s: Nếu cây trưởng thành của bác còn èo uột thì nên tưới 30-10-10 để dưỡng cho nó khỏe cây đã rồi hãy dùng 20-20-20 như ở trên.

kentxiii
03-10-2009, 03:44 PM
chân thành cảm ơn những ý kiến quí báu của các bạn

phamtriu.tb
10-10-2009, 05:23 PM
Xin cho biết cây den.Burana sao khi kích hoa và vừa lú vòi hoa thì xịt loại phân gì để nuôi dưỡng hoa?

bạn có thể dùng phân đa yếu tố(tỷ lệ N thấp)+hỗn hợp vitamin(không chứa C),phun tơi,tránh phun vào hoa
tôi hiểu biết có hạn chỉ dựa vào kn bản thân thôi

culanluasg
16-10-2009, 11:23 PM
Bài của Sở Nông nghiệp và PTNT nông thôn Kiên Giang
CHƯƠNG II : PHÂN BÓN

CHƯƠNG II : PHÂN BÓN

I. KHÁI NIỆM :
- Các chất dinh dưỡng trong đất trồng không ***** cung cấp cho cây và không cho năng suất cao. Nên các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra các nguồn chất dinh dưỡng có trong tự nhiên như chất hữu cơ, quặng khác; hoặc tổng hợp các hợp chất hóa học có chứa các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng được gọi chung là phân bón.
- Phân bón là những chất hay hợp chất chó chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng khoáng chất cần thiết cho cây trồng, nó có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển cây trồng, hoặc cải tạo đất trồng.
- Dinh dưỡng cây trồng được hút bởi rễ hoặc lá cây trồng ở dạng ion, phức chất trong dung dịch. Dạng chất hòa tan mà cây trồng hấp thu được, mới là chất hữu hiệu.
- Các loại phân bón giúp cải thiện ác tính chất lý hoá học của đất, làm tăng độ phì nhiêu của đất lên; tăng năng suất và phẩm chất cây trồng. Phân bón không những làm tăng năng suất vụ đầu tiên mà hiệu lực còn kéo dài qua nhiều vụ.

II. CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CẦN THIẾT CHO CÂY TRỒNG
Cây trồng giống như các cơ thể sống bình thường, đều cần thức ăn cho sinh trưởng và phát triển. Cây trồng hút nước, hút khoáng chất từ đất qua bộ rễ và bề mặt của lá trên cây. Tất cả các nguyên tố dinh dưỡng đều cần thiết như nhau cho sự phát triển của cây trồng, nếu thiếu cây sẽ bị ảnh hưởng bất lợi. Tuy nhiên, có chất cây trồng cần nhiều, có chất cần ít, do vậy có thể chia nhóm dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng theo số lượng cây cần, theo 3 nhóm nguyên tố: Đa lượng, trung lượng và vi lượng.
- Các nguyên tố đa lượng bao gồm: Đạm (N), lân (P) và kali (K) được cây trồng cần với số lượng lớn, giúp năng suất cây trồng tăng đáng kể. đây cũng là 3 dưỡng chất được sản xuất nhiều loại phân bón trên thị trường hiện nay cung cấp cho cây trồng.
- Các nguyên tố trung lượng gồm: canxi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh (S) được cây trồng cần với số lượng ít hơn các chất đa lượng. Các nguyên tố này được sản xuất ở trong các loại phân bón chuyên dùng, phân hỗn hợp NPK, nhằm hỗ trợ cho các cây trồng cần nhiều như: Cây lấy dầu; cây lấy củ; cây lấy đường; cây ăn trái; …
- Các nguyên tố vi lượng bao gồm: Đồng (Cu), kẽm (Zn), Mangan(Mn), sắt (Fe), Bo (B), molypden (Mo), clo (Cl) được cây cần với số lượng rất ít nhưng các nguyên tố này giúp tạo nên cho chất lượng sản phẩm nông sản như tạo mùi thơm đặc trưng trên giống, độ ngọt trên trái cây. Hiện nay, các loại nguyên tố này có trong các loại phân bón qua lá, phân hữu cơ, …

culanluasg
16-10-2009, 11:25 PM
III. CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH CỦA CÂY TRỒNG :
1. Chất đạm (N):

1.1 Vai trò của chất đạm trong cây:

Đạm là dưỡng chất chính cần thiết cho cây tạo diệp lục tố, quang hợp tạo chất khô trong cây. Chất đạm cần suốt quá trình sinh trưởng cây trồng, từ lúc cây nẩy mầm cho đến thu hoạch.
- Thiếu đạm: Cây cằn cõi, lá chuyển màu sanh nhạt hoặc vàng, trước tiên thể hiện ở lá già sau lan dần đến toàn cây. Cây ít trái hoa95c trái nhỏ kém phẩm chất. Nếu thiếu đạm ở giai đoạn đầu phần nhiều cây sẽ không lại sức ở giai đoạn sau dù có cung cấp thật nhiều chất đạm nên làm giảm năng suất cây trồng đáng kể.
- Thừa đạm: cây phát triển không cân đối, thân, lá vươn dài cây yếu ớt dễ đỗ ngã, dễ sâu bệnh, phẩm chất nông sản giảm (lạt, chua) thời gian bảo quản không được lâu.

1.2 Chất đạm trong đất:

- Đạm hữu cơ, đạm tổng hợp do các vi khuẩn cố định đạm tạo nên hoặc do con người sản xuất ra (phân bón vô cơ), hoặc chất đạm do nước mưa cung cấp.
- Cây trồng hấp thụ đạm trong đất ở 2 dạng NH4+ (amonium), NO3-(nitrat).
- Chất đạm trong đất trồng dễ bị mất đi do:
+ Do trực di: Thấm sâu vào đất.
+ Khi chất đạm hòa tan vào nước bị rửa trôi đi mất.
+ Bị khoáng sét hoặc các vi sinh trong đất kiềm giữ.
+ Chuyển thành chất khí mất đi ở dạng khí amoniac (NH3), khí nitơ (N2), … do điều kiện đất chua hoặc đất khô.
Do đó, khi bón đạm cần chia làm nhiều lần bón, bón thích hợp với từng giai đoạn sinh trưởng cây trồng. Đối với cây trồng nước không nên bón khi ruộng bị khô, hoặc nước quá sâu. Đối với cây trồng cạn cần đào rãnh hoặc hốc để bón, sau đó lắp đất và tưới nước, không bón rải trên mặt đất.

2. Chất lân (P2O5):

2.1. Chất lân trong cây:

- Giúp cho rễ phát triển tốt, hút nhiều chất dinh dưỡng, cây cứng chắc.
- Giúp cây sớm nảy chồi, phân nhánh va gia tăng quá trình sinh sản làm cây chín sớm hơn.
- Thiếu lân: Rễ kém phát triển, cây ít phân cành, phân chồi. Lá có màu tím ở bìa lá (cây bắp). Lá hẹp đứng, nảy chồi kém (ở cây lúa). Ngoài ra còn giảm quá trình hấp thu dinh dưỡng và phát triển trên cây, làm giảm năng suất đáng kể.

2.2. Chất lân trong đất:

- “Lân tổng số” là tổng số chất lân có trong đất ở bất cứ dạng nào (hữu cơ, vô cơ), được thể hiện bằng tổng số của (P2O5).
- “Lân dễ tiêu” là lân ở dạng hòa tang trong dung dịch đất mà cây trồng có thể sử dụng dễ dàng.
- “Lân khó tiêu” là lân ở dạng không hòa tan trong nước. Lúc này lân bị kết tủa , hoặc bị kiềm giữ bởi khoáng sét, hoặc bị các chất độc sắt (Fe3+), nhôm (Al3+) ở dạng hòa tan trong đất , liên kết thành dạng Fe(OH2)H2PO4, Al(OH)2(H2PO4) kết tủa (khó tan). Khi điều kiện kềm giữ được cải thiện ( Như độ pH được nâng lên) thì lân khó tan sẽ dần dần chuyển thành lân dễ tan và hữu dụng cho cây trồng trở lại.
Tóm lại, chất lân trong đất trồng không bị mất đi do bốc hơi như chất đạm, ít bị rửa trôi mà chỉ chuyển từ dạng dễ tiêu sang dạng khó tiêu và ngược lại, tuỳ điều kiện đất trồng lúc đó.

* Lưu ý khi sử dụng phân lân

- Phân apatit, Phosphoric là dạng lân khó hòa tan phải bón nhiều, bón sớm và hiệu quả sẽ kéo dài trong nhiều vụ.
- Phân Super lân, lân nung chảy có lượng lân dễ tiêu có thể dùng bón lót, hoặc bón thúc lần đầu.
- Phân DAP (18-46-0) là loại phân phức hợp có chứa hàm lượng lân cao dễ hòa tan, còn có chứa đạm nên chỉ thích hợp cho bón thúc, hoặc khi bón lót phải chôn vào đất.
3. Chất Kali (K2O):

3.1. Kali trong cây:

- Giúp cây quang hợp tạo chất khô được tốt hơn, tăng chất lượng nông sản.
- Kali tăng cường sự tạo thành bó mạch, làm mô cây cứng cáp. Ít đỗ ngã.
- Kali tăng cường sức chống chịu cây đối với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh.
- Thiếu Kali: Các chót lá cây bị khô dọc mép lá từ ngoài vào, từ trên xuống, cây yếu.

3.2. Kali trong đất:

- Bị kềm giữ trong khoáng sét, trao đổi trên bề mặt keo đất, hoặc hòa tan trong dung dịch đất.
- Nguồn Kali được cung cấp từ: Khoáng hoá các khoáng sét, phân hữu cơ, phân vô cơ, phù sa sông,…
- Kali bị mất do hoa màu hút, rửa trôi, xói mòn, cố định Kali do khoáng sét.

3.3. Lưu ý khi dùng phân Kali:

- Phân Kali là phân sinh lý chua, khi bón phân Kali lâu ngày phải bổ sung thêm vôi để trung hoà bớt độ chua của đất.
- Phân chuồng, phân tro tầu là phân giàu Kali có thể bón bổ sung thêm Kali cho đất trồng.
- Trên đất mặn không nên bón phân Kali vì phần Kali sẽ làm đất mặn thêm.

culanluasg
16-10-2009, 11:28 PM
. CÁC DẠNG PHÂN BÓN HÓA HỌC
1. Các loại phân đơn chất:

1.1. Phân đạm:

a. Sulfat Amonium [(NH4)2SO4]: (phân SA)

- Chứa 20,5-21% đạm nguyên chất, 23-24% lưu huỳnh. Phân có màu trắng, dễ hút ẩm. Nếu bảo quản thời gian lâu, nhiệt độ cao sẽ mất đạm nhiều ở dạng khí amoniac (NH3).
- SA bón vào đất chua sẽ xảy ra phản ứng sinh ra axit sunfuric (H2SO4) làm cho đất chua thêm.
- Đất trồng đồng bằng sông Cửu Long phần lớn là đất phèn, so đó không nên dùng phân SA để bón cho ruộng lúa.
- Đối với cây trồng cạn cần nhiều lưu huỳnh như cải bắp, khoai lang, cây lấy dầu,… bón phân SA rất thích hợp.

b. Urê [CO(NH2)2]:

- Urê chứa 46% đạm nguyên chất, phân có màu trắng tinh khiết, không mùi, tinh thể lớn sờ vào thất nhờn tay, dễ hút ẩm, dễ tan trong nước, khi hò tan trong nước sinh ra phản ứng thu nhiệt, làm cho nước trở nên lạnh (còn gọi là phân lạnh).
- Trong quá trình sản xuất phân Urê có sinh ra chất Biurêt (NH2-CO-NH-CONH2) rất độc cho cây trồng cạn. Khi nồng độ vượt quá 1% sẽ gấy cháy lá cây.
- Urê có thể phun lên lá, tùy theo cây trồng mà chọn nồng độ thích hợp. Cam, quít khoảng 0.5% Urê; Rau các loại khoảng 0,5-1% Urê,…
Lưu ý, khi phun lên lá nên chọn phân Urê có nồng độ Biurêt thấp, dưới 1%, Urê khó pha trộn với các loại phân bón khác vì dễ đóng cục và mất đạm trong lúc trộn.

1.2. Phân lân:

a. Apatit ( 3Ca3PO4CaX2):

Apatit có nguồn gốc đá phún xuất, là dạng phân nghiền từ quặng, có chức 30-42% P2O5 tổng số. KHông có chất hữu cơ, tỉ lệ sắt (Fe), nhôm (Al), thấp dưới 3%, phân Apatit bó để cải tạo đất phèn rất hiệu quả/

b. Phosphoric [Ca(PO4)2]

- Có nguồn gốc đá trầm tích, tỉ lệ lân dưới 30% P2O5 tổng số. Có lẫn đất, nhiều chất hữu cơ, sắt (Fe) và nhôm (Al).
- Phosphoric co hiệu lực ao trên đất phèn.

c. Lân nung chảy (Thermophosphate)
Phân ở dạng bột màu trắng xanh, không tan trong nước, chứa 15-18% P2O5, trong phân còn có chứa một số nguyên tố khác như: Oxít Canxi (CaO), Oxít magiê (MgO), Oxít Silic (SiO2) không hút ẩm. Thích hợp trên vùng đất phèn nhiều cần cải tạo. Trên thị trường có lân Văn Điển, lân Ninh Bình,…

d. Super Lân [Ca(H2PO4)2CaSO4]:

- Phân ở dạng bột màu trắng xám, có vị chua, chứa 16-18% P2O5 và 28% CaO (vội bột). Phân sễ tan trong nước. Thị trường hiện có phân lân Lâm Thao, lân Long Thành.
- Khi sử dụng phân lân trên đất chua nên bón thêm vôi trước để trung hòa bớt độ chua của đất.

1.3. Phân Kali:

a. Kali Clorua (KCl)

Phân có màu muối ớt, dễ tan trong nước, để lâu đóng cục, chứa 60% kali nguyên chất (K2O), có lẫn muối, dễ chảy nước. Đây là phân sinh lý chua, bón phân vào đất dễ làm cho đất chua thêm. Cây trồng có phản ứng với Clo thì không nên bón phân này như thuốc lá, khoai tây, sầu riêng.

b. Kali Sulfat (K2SO4)

Phân có màu trắng tinh khiết, tan trong nước, ít chảy nước, chứa 48-50% kali nguyên chất (K2O) và 18% lưu huỳnh (S). Gần giống phân sinh lý chua, có chức gốc sulfat nên khi bón trên đất phèn làm cho đất chua thêm. Phân này chỉ thích hợp cho cây trồng cạn, cần nhiều lưu huỳnh, không nên bón phân trên đất phèn.

2. Các loại phân hỗn hợp:

Phân hỗn hợp là loại phân có chứa 2-3 nguyên tố dinh dưỡng và biểu thị thành phần của nó bằng số đại diện là những dinh dưỡng tố có trong 100Kg phân theo N-P-K. Có 2 loại phân hỗn hợp.
- Phân trộn: Do sự trộn cơ học thông thường của các loại phân đạm, lân và phân Kali theo tỷ lệ nhất định để tại ra phân NPK mong muốn. Trong quá trình trộn không làm mất đi tính chất lý học và hóa học của nguyên liệu ban đầu, nên đã làm mất đạm đáng kể, do bị bố hơi (nhiệt độ cao trong quá trình trộn) mất đạm.
- Phân phức hợp: là phân chế tạo bằng sự tổng hợp hóa học mà những nguyên liệu chủ yếu là phosphat thiên nhiên, axít phosphoric, Urê, Kali,… trong quá trình chế biến tính chất lý học, hó học bị biến đổi, mỗi loại phân được tạo ra sẽ có tính chất riêng biệt của loại phân đó.

2.1. Nitrat Kali (KNO3):

Phân KNO3 có màu trắng tinh khiết, tan nhanh trong nước, không chảy nước. Chứa 40 % kali nguyên chất (K2O) và 11% đạm nguyên chất (N). Phân dùng phun lá cây trồng vừa cung cấp đạm cho cây và cũng là chất kích thích ra bông trên cây xoài.

2.2. DAP (18-46-0): (Di amonium phosphat)

Là dạng phân phức hợp, phân có màu nâu đen, xám trắng, tan trong nước, không chảy nước, chứa 18% đạm nguyên chất (N) và 46% lân nguyên chất (P2O5) và không chứa Kali.

2.3. NPK (20-20-15):

Là dạng phân hỗn hợp có chứa 3 dưỡng chất, phân có màu nâu đen, hoặc 3 màu , tan trong nước. Chứa 20% đạm nguyên chất (N), 20% lân nguyên chất (P2O5) và 15% kali nguyên chất (K2O).

2.4. NPK (16 - 16 - 8 - 13S):

Là dạng phân hỗn hợp có chứ 4 dưỡng chất, phân có màu nâu đen, tan trong nước. Chứa 16% đạm nguyên chất (N), 16% lân nguyên chất (P2O5), 8% kali nguyên chất (K2O) và 13% lưu huỳnh (S). Phân thích hợp bón cho cây trồng cạn, nhất là cây lấy dầu (dừa, …); cây lấy củ (khoai lang, khoai mì,…).

2.5. Phân chuyên dùng:

Là dạng phân hỗn hợp có chứa 3 dưỡng chất chính là đạm, lân, kali đôi lúc có thêm các chất trung lượng và vi lượng, phân thường có màu nâu đen, hoặc 3 màu, tan trong nước. Nhưng hàm lượng dưỡng chất được nghiên cứu thích hợp cho từng thời kỳ sinh trưởng của từng loại cây trồng như: Phân chuyên dùng cho lúa (997,998,999,…); Hoặc phân chuyên dùng cho cây ăn trái (AT1, AT2, AT3,…) hoặc phân chuyên dùng cho cây tiêu,…
* cách phối hợp phân bón theo công thức cho trước 100 - 50 - 30, băng các loại phân như : Urê, DAP, Kali clorua. Cách tính:

- Tính lượng Kali nguyên chất:
trong 100kg KCL có chứa 60Kg K2O
x? kg KCl để được 30 kg K2O
=> x = (100 x 30)/60 = 50kg KCl

- Tính lượng Lân nguyên chất:
trong 100kg DAP có chứa 46Kg P2O5
y? kg DAP để được 50 kg P2O5
=> y = (100 x 50)/46 = 108kg DAP

- Tính lượng Đạm nguyên chất (N):
trong 100kg DAP có chứa 18Kg N
108 kg DAP có chứa Z1 kg N
=> y = (108 x 18)/100 = 20kg N

+ Lượng N còn lại : 100-20 = 80 Kg N

+ Trong 100Kg Urê có chứa 46 Kg N

Z2? Kg Urê để được 80 kg N.
=> Z2 = (100 x 80) / 46 =174 kg Urê.

Vậy theo công thức 100- 50 -30, lượng phân cần 174 kg Urê, 108 kg DAP và 50 Kg KCl.

3. Phân bón vi lượng:

3.1 Chất vi lượng trong cây:

Nguyên tố vi lượng cây cần gồm 7 nguyên tố. Các nguyên tố là: Sắt (fe); Mangan (Mn); Đồng (cu); Kẽm (Zn); Iốt (I); Molypden (Mo); Bo (B). Nguyên tố vi lượng chiếm tỉ lệ rất thấp trong cây, khoảng 0,6%, nhưng có vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc tạo chất khô tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nông sản. Nồng độ chất vi lượng trong cây quá cao hoặc qua thấp đầu ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và phẩm chất nông sản, nồng độ cao gây ngộ độc cho cây.

3.2 Chất vi lượng trong đất:

- Chất vi lượng trong đất ở dưới dạng các hợp chất hữu cơ, vô cơ. Quá trình khoáng hóa các chất vô cơ là sự hoạt động của vi sinh vật trong đất sẽ phóng thích nguyên tố vi lượng cung cấp cho cây trồng.
- Chất vi lượng còn có trong phân hữu cơ, phân sinh học, phân bón qua lá.



-

culanluasg
16-10-2009, 11:28 PM
3.3 Phân bón qua lá:

- Trên thị trường hiện nay, các loại phân bón qua lá có chứa thành phần dinh dưỡng khác nhau, ngoài những nguyên tố vi lượng còn có chứa thêm các nguyên tố đa lượng và các chất kích thích tăng trưởng nhằm bổ sung thêm phần nào nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng. Các dưỡng chất được hấp thu qua lá cây, giúp tăng phẩm chất nông sản và tăng một phần năng suất trên những cây trồng thiếu dinh dưỡng trầm trọng.
- Các loại phân bón lá hiện nay gồm có: Komix; Complesal, Bayfolan, HVP, Bioted, …

culanluasg
16-10-2009, 11:30 PM
4. Phân hữu cơ:

4.1. Phân chuồng:

- Phân chuồng là hỗn hợp giữa các thực vật lót chuồng và phân súc vật đã được phân huỷ bởi vi sinh vật, qua quá trình ủ phân (phân hoai mục).
- Tỉ lệ chất dinh dưỡng trung bình có rong phân là: 0,5% N; 0, 3% P2O5; 0,6% K2O; 0,5% Ca; ),2% Mg và một số thành phần nguyên tố vi lượng chiếm 0,05% ; 3,5% Mn; 0,5% B.
- Ưu điểm: Phân chuồng chứa nhiều loại chất dinh dưỡng dễ tiêu, giúp tăng độ phì nhiêu của đất, giúp đất tơi xốp và màu mỡ hơn.
- Nhược điểm: Phân chuồng có hàm lượng dinh dưỡng thấp, tốn công vận chuyển, tác dụng chậm hơn so với phân vô cơ. Phẩm chất tuỳ thuộc vào môi trường và cách ủ. Sử dụng phân chuồng phải ủ thật hoai mới đem bón cho cây, nếu không mầm bệnh sẽ còn tồn tại trong phân làm ô nhiễm môi trường, có thể tấn công gây hại cho cây trồng.
Phân chuồng tươi chứa nhiều chất hữu cơ chưa phân hủy và mầm bệnh trên cây trồng, gia súc. Nên cần phải ủ phân chuồng để các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ tạo ra các chất dinh dưỡng cây trồng dễ hấp thu và diệt các mầm bệnh (nếu ủ đúng cách).

* Các phương pháp ủ chính

- Phương pháp ủ nóng: Phân được xếp thành đống cao 1,5 - 2,0m, không nén. Trong quá trình ủ phân sự phân giải phân, nhiệt độ đống ủ tăng cao 80- 90oC, nhược điểm của phương pháp này làm mất nhiều chất đạm.

- Phương pháp ủ nguội: Phân được xếp thành đống to và nén chặc xuống, nhiệt độ trong đống ủ là 35-50oC, đạm ít mất đi, phân hoai chậm.

- Phương pháp ủ nóng trước, ủ nguội sau: Để phân thành đống ủ cho đạt đến nhiệt độ 50 - 60oC , mới nén chặt đống phân lại, phương pháp này sẽ khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên.

Khi ủ phân chuồng nên kết hợp với phân lân sẽ giúp chất đạm ít bị mất đi hơn, phân hoai nhanh hơn, phẩm chất phân chuồng, hiệu lực phân lân cũng tăng lên.

* Các nguồn phân hữu cơ

- Khô dầu: là phần chất bã còn lại sau khi đã ép các nguyên liệu để lấy dầu, phân có nhiều đạm và lân.

- Xác mắm: Có nhiều chất đạm tỷ lệ chất lân cao, kali thấp, lượng muối đáng kể . Chất dinh dưỡng trong xác mắm gồm 11,6% N; 3-4% P2O5; 22-30% vôi; 7-15% muối (NaCl)

- Than bùn: Do các loại cây cỏ vùi lâu ngày trong điều kiện yếm khí tạo thành. Than bùn giàu chất đạm, nghèo chất Kali và Lân. Chất đạm trong than bùn không sử dụng được ngay mà phải ú mới sử dụng được. Than bùn ở nước ta phần lớn chua (pH: 3,5%), có chứa nhiều độc chất như: Lưu huỳnh (S), sắt (Fe), nhôm (Al) nên người ta thường động than bùn với phân gia súc chất lượng phân cao hơn than bùn ủ với rôm rạ.

4.2. Phân Xanh:

- Phân xanh có được do vùi cây tươi vào đất, phân xanh giúp cho đất thoáng, tơi xốp, giữ chất dinh dưỡng nhiều hơn, tránh bị rữa trôi, thường được áp dụng trên vùng đất bạc màu do khai thác triệt để hoặc vùng đất nghèo chất dinh dưỡng, nhất là đất thiếu chất hữu cơ.
- Theo nhiều tác giả cho rằng tỷ lệ muối trong đất mặn sẽ giảm đi nếu có trồng cây phân xanh. Cây phân xanh có tán lá lớn, có tác dụng che phủ bảo vệ lớp đất mặn tránh bị xói mòn hạn chế cỏ dại
- Các cây phân xanh có triển vọng như: Cây điên điển (điền thanh), bèo hoa dâu, cây Bình Linh và một số cây họ đậu khác.

V. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DINH DƯỠNG CÂY TRỒNG
Ngoài yếu tố đất đai, khí hậu chi phối. Bốn yếu tố cơ bản sau đây sẽ đảm bảo cho ngành nông nghiệp có năng suất cao, ổn định và an toàn môi trường sống:

- Đảm bảo ***** nước cho cây trồng sinh trưởng bình thường.
- Đảm bảo giống tốt, chống chịu một số sâu bệnh quan trọng, có tiềm năng cho năng suất cao và phẩm chất tốt.
- Đảm bảo ***** dinh dưỡng cho cây trồng.
- Đảm bảo an toàn sâu bệnh, ít ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và sức khỏe con người

1. Quản lý tổng hợp sinh dưỡng cây trồng:

Kinh nghiệm rong nước và trên thế giới cho thấy:
- Chỉ sử dụng các loại phân sinh học ( như phân hữu cơ, phân xanh,…) không thể nâng cao năng suất cây trồng.
- Nếu chỉ dùng phân bón hoá học đơn thuần năng suất cây trồng chỉ tăng đến một giới hạn nhất định .
- Nếu sử dụng các chất trong công nghiệp không đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường.
Muốn duy trì và bảo vệ độ phì nhiêu đất phải bón kết hợp cả phân hữu cơ và phân hoá học với liều lượng dạng phân thích hợp.
Cần tận dụng triệt để các nguồn phân hữu cơ để bón ruộng, khoảng 7tấn/ha. Phân hóa học có thể dùng là Urê, Super lân, DAP, NPK hoặc phun phân bón qua lá.

2. Bón phân cân đối:

Bón phân cân đối là bón đầy ***** các loại dưỡng chất vào giai đoạn cây cần để nâng cao năng suất cây trồng và phẩm chất nông sản. Ổn định, tăng độ phì nhiêu đất trồng, phục hồi độ phì nhiêu của đất trồng đã thoái hóa. Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng trong đất, cần nâng cao tỷ lệ phân lân và phân kali, nhưng với phân đạm hầu như không có. Đạm không dùng hết trong vụ đó bị mất đi do bị rửa trôi hoặc bay hơi trở lại không khí.

4. Phun phân qua lá:

Từ trước đến nay chúng ta chỉ bón phân vào đất, ít chú ý bón phân qua lá. Với những tiến bộ kỹ thuật về hóa học, sinh học, các chế phẩm phân phun qua lá có chứa các chất đa lượng, trung lượng, vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng. Phân bón dạng này đã xuất hiện và được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần nghiên cứu phát triển sản xuất và đưa vào sử dụng cần có hướng dẫn kỹ thuật của các cơ quan khoa học và khuyến nông.

culanluasg
16-10-2009, 11:30 PM
CHƯƠNG III: THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
I. KHÁI NIỆM :

Thuốc bảo vệ thực vật là những hợp chất hóa học (vô cơ hay hữu cơ); Những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, virus, tuyến trùng); Những chất có nguồn gốc thực vật, được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại, gây hại của sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, cỏ dại,…)
Những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản gọi chung là dịch hại. Những chất dùng để diệt chúng còn được gọi là thuốc trừ dịch hại.
Thuốc bảo vệ thực vật chia thành nhòm tuỳ theo công dụng gồm: Thuốc trừ sâu, thuốc trừ nhện, thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ chuột, thuốc trừ ốc sên, thuốc xông hơi diệt côn trùng gây hại cho nông sản trong kho, thuốc trừ sâu hại mùa màng, thuốc trừ bênh cây, thuốc trừ cỏ dại, thuốc làm rụng lá cây, thuốc điều hòa sinh trưởng,…
II. TÊN GỌI - HÀM LƯỢNG HOẠT CHẤT - DẠNG CHẾ PHẨM

Bất cứ thuốc bảo vệ thực vật nào cũng đều có nhãn để ghi tên thuốc, hàm lượng hoạt chất, dạng chế phẩm (ký hiệu) theo quy định thống nhất để tiện việc sử dụng.

Thí dụ Trebon 10ND, có tên gọi là Trebon hoạt chất là 10%; dạng chế phẩm là nhũ dầu.

1.Tên của một số thuốc bảo vệ thực vật:

Mỗi chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật đều có 3 tên gọi khác nhau:

- Tên hóa học: Là tên gọi hóa học của chế phẩm nông dược
- Tên chung: là tên của các tổ chức quốc tế thống nhất đặt cho hợp chất đó.
- Tên riêng hay tên thương mại: Một loại thuốc có nhiều hãng hóa chất sản xuất ra mỗi hãng lại đặt tên riêng cho sản phẩm của mình.
Ví dụ: Cùng một loại thuốc nhóm Glyphosate có nhiều tên khác nhau như Round up, Spark, Pin up, Dream, …

2. Hàm Lượng:

Là lượng hoạt chất có trong chế phẩm (ký hiệu :ai), có tác dụng gây độc trực tiếp lên đối tượng gây hại.

3. Dạng chế phẩm:

Trên thị trường có nhiều dạng chế phẩm khác nhau, tuy nhiên chỉ có 4 dạng chính:

3.1. Thuốc bột (ký hiệu BR hay D )

Hàm lượng hoạt chất trong thuốc thường không cao (5-10%). Dùng để phun lên cây, lên mặt đất hoặc trộn với hạt giống (không hòa tan với nước). Có khả năng tiêu diệt nhiều loại sâu hại cùng một lúc, hiệu quả cao, dễ làm ô nhiễm môi trường.

3.2 Thuốc hột: (ký hiệu H hay G)

Hàm lượng hoạt chất rong thuốc hột không cao (dưới 10%). Thuốc được dùng chủ yếu rải vào đất (không hòa vớ nước) để trừ s6u hại, trừ bệnh cây, trừ cỏ dại, trừ tuyến trùng.

Ví dụ: Basudin 10H, Ridomil 5G, …

3.3 Thuốc bột hòa nước (ký hiệu: BHN, BTNhay W, WP,SP, …)

Thuốc dạng bột hay hạt tan có hàm lượng hoạt chất tương đối cao. Hòa với nước để phun lên cây hoặc để ngâm hột giống.
- Thuốc dạng bột thấm nước (BTN, WP, …): thuốc có dạng bột mịn khi hòa tan trong nước sẽ phân tán thành dạng bột huyền phù.
Ví dụ: Kasuran 20BTN, Mipcin 50WP,…
- Thuốc dạng bột hòa nước (BHN,SP,…): Thuốc có dạng bột tan trong nước, khi hòa tan rong nước sẽ phân tán thành dung dịch keo.
Ví dụ Padan 95SP, Zineb 80BHN,…

3.4 Thuốc lỏng (ký hiệu ND, DD, hay EC, F, SC,CW, SL, FL)

Thuốc ở dạng lỏng có hàm lượng hoạt chất cao. Được hòa với nước để phun xịt lên cây.
- Thuốc dạng nhũ dầu (ND, EC,…): Thuốc ở thể lỏng trong suốt, tan trong nước thành dạng sữa tương đối đồng đều. Thuốc dễ bắt lửa, cháy và nổ.
Ví dụ: Sherpa 25EC, Fuji-one 40ND,…
- Thuốc dang dung dịch (DD, SL, SC, S,…): Thuốc tan đều trong nước, không tạo chất sữa.
Ví dụ: Anvil 5SC

III. ĐỘ ĐỘC - ĐỘ LƯU TỒN- THỜi GIAN CÁCH LY
1. Độ độc của thuốc:

Độ độc của thuốc là liều lượng tính bằng gram (gr) hoặc miligram (mg) cần thiết để gây một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật.

1.1 Độ độc cấp tính và độ độc mãn tính:

- Độ độc cấp tính là lượng chất độc nhỏ nhất gây cho cơ thể những biến đổi không thể phục hồi được dẫn đến cơ thể chết.
- Độ độc mãn tính là lượng chất độc có thể gây ra sự huỷ hoại cơ thể, nhưng chưa làm chết cơ thể.

1.2. Độ độc cấp tính LD50:

Độ độc cấp tính là lượng chất độc trung bình trong điều kiện nhất định gây chết 50% cá thể thí nghiệm (ký hiệu LD50).
Độ độc của thuốc dựa vào chỉ số LD50 chia ra 4 cấp:
- LD50 nhỏ hơn 10mg/kg: Rất độc.
- LD50 từ 11-200mg/kg: Độc mạnh.
- LD50 từ 201 - 1000mg/kg: Độc trung bình.
- LD50 lớn hơn 1000: ít độc.
Ngoài ra, độ độc của thuốc còn qui định theo băng màu ở cuối nhãn thuốc. Trên hình băng màu có in hình các biện pháp an toàn trong nông dược. Băng màu chia làm 4 cấp tương đương với 4 cấp theo chỉ số LD50:
- Băng màu đỏ: Rất độc.
- Băng màu vàng: Độc mạnh.
- Băng màu xanh dương Độc trung bình.
- Băng màu xanh lá cây Ít độc

1.3 Độ lưu tồn cho phép:
Lượng tồn độc cho phép của một loại thuốc trên một loại nông sản là lượng thuốc tối đa cho phép lưu lại trên đó với điều kiện không gây hại cho người và động vật tiêu thụ nông sản đó. Lượng “Tồn độc cho phép” rất thấp thường chỉ vài phần triệu (ppm).
1.4. Thời gian cách ly:
Thời gian cách ly của một loại thuốc đối với một loại nông sản là thời gian bắt buộc phải tuân theo kể từ lúc xử lý lần cuối đến ngày thu hoạch nông sản đó, để người tiêu thụ nông sản không bị ảnh hưởng.
Thời gian cách ly tùy theo từng loại thuốc, thuốc có độc tính cao chậm phân giải có thời gian cách ly dài; thuốc ít độc mau phân hủy có thời gian cách ly ngắn.

culanluasg
16-10-2009, 11:34 PM
IV. CÁC LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT THÔNG DỤNG
1. Thuốc trừ sâu:
1.1 Tác động của thuốc trừ sâu:
Thuốc trừ sâu có thể diệt côn trùng bằng nhiều cách trong đó tác dụng chủ yếu gồm:
- Tác dụng tiếp xúc: Khi xử lý thuốc lên cơ thể côn trùng, hoặc khi chúng di chuyển trên bộ phận cây trồng đã được phun thuốc trừ sâu tiếp xúc, thuốc ngấm qua da gây hại cho côn trùng.
- Tác dụng vị độc: Giết sâu qua đường tiêu hóa, thuốc này có hiệu quả đối với côn trùng miệng nhai, miệng liếm …
- Tác dụng xông hơi: Diệt côn trùng qua đường hô hấp của chúng, Những loại thuốc bay hơi thường có tác dụng xông hơi tốt.
- Tác dụng thấm sâu: Khi xử lý thuốc có khả năng xâm nhập vào lớp mô cây trồng và diệt được các loại côn trùng sống ân dưới những mô bị phun thuốc. Như sâu vẽ bùa,…
- Tác dụng nội hấp (hay lưu dẫn): Khi xử lý thuốc lên một bộ phận cây, thuốc được hấp thụ vào bên trong, di chuyển khắp các bộ phận khác,diệt những côn trùng chích hút nhựa, đục lá,…
1.2 Đặc điểm của nhóm thuốc trừ sâu:
1.2.1. Nhóm Clo hữu cơ:
Clo hữu cơ là chất tổng hợp có tác dụng tiếp xúc và vị độc, một số ít có khả năng xông hơi . Clo hữu cơ có độ bền lâu dài trong đất (từ 2-15 năm ) dễ làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, đa số các thuốc nhóm này đã cấm sử dụng như: DDT, BHC, Lindan,… còn lại một số cũng đã hạn chế sử dụng như: Thiodan,…
1.2.2 Nhóm lân hữu cơ:
Các thuốc nhóm lân hữu cơ gây độc rất nhanh trên sinh vật. Trong vài giờ đầu các cơ bị co giật dần dần bị liệt và bị chết. Đại đa số chất độc lân hữu cơ có khả năng tiêu diệt nhiều loại sâu, thuốc trừ sâu lân hữu cơ đều có tác dụng tiếp xúc, vị độc hoặc xông hơi. Thuốc thường có mùi xốc, tác động đến thần kinh sâu hại,… Thuốc thường làm cho côn trùng chết nhanh, tương đối an toàn cho cây trồng và ít lưu tồn trong môi trường hơn nhóm Clo hữu cơ.
Trong nhóm này, đa số các loại thuốc độc có tính cao với người hiện nay đã bị cấm, sử dụng, hoặc hạn chế sử dụng trong nông nghiệp.
Ví dụ: Methyl parathion, Azodin, Basudin, …
1.2.3 Nhóm carbamat hữu cơ:
Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc xông hơi, một số ít có khả năng thấm sâu và lưu dẫn. Thuốc làm sâu ngộ độc và chết nhanh. Hiệu lực của thuốc trừ sâu carbamat không giảm đi nhiều dưới ảnh hưởng của ẩm độ và nhiệt độ bên ngoài. Thuốc không tồn tại quá lâu trong đất, trong nông sản như: Bassa, Mipcin, Sevin, … Một số thuốc trừ sâu Carbamat tương đối an toàn với thiên địch trên ruộng lúa.
1.2.4. Nhóm pyrethriod (nhóm Cúc tổng hợp):
Pyrethriod có tác dụng tiếp xúc và vị độc, có khả năng tiêu diệt nhiều loại côn trùng nguy hiểm như bọ cánh vẩy trên bông vải, bắp thuốc lá và trên một số cây công nghiệp khác. Thuốc rất ít độc với người và động vật máu nóng, nhưng lại tương đối độc với cá.
Ví dụ: Sherpa,Fastac, Decis, Karate, …
1.2.5 Thuốc ức chế sinh trưởng côn trùng:
Thuốc ức chế sinh trưởng côn trùng là dạng thuốc ức chế quá trình lột xác của côn trùng, cắt đứt vòng đời của côn trùng làm cho côn trùng bị chết. Ngoài ra thuốc còn gây tác động triệt sản côn trùng, thuốc có tác dụng tiếp xúc và vị độc.
Nhóm thuốc này có hiệu lực chậm nhưng kéo dài, có tạc dụng chọn lọc, ít gây hại cho côn trùng trưởng thành, thiên địch và động vật máu nóng.
Ví dụ: Nomolt 5ND, Applaud 10WP
1.2.6. Nhóm thuốc sinh học:
Để bảo vệ cây trồng cùng với hàng loạt chế phẩm hóa học, người ta còn sử dụng chế phẩm vi sinh vật là vi khuẩn, nấm gây bệnh cho côn trùng (sâu, rầy,…).
Các chế phẩm sinh học này có tác dụng chuyên biệt, không gây độc cho các loại thiên địch, con người và động vật. Thuốc các tác động chậm và bị ảnh hưởng rất lớn của môi trường lúc phun xịt, nhất là môi trường nóng ẩm làm thuốc mau mất tác dụng.
Ví dụ: thuricide, Bacterin BT, Beauveria,…
1.2.7. Chất dẫn dụ, chất xua đuổi sâu hại và hợp chất pheromon:
Là những chất không có tác dụng trực tiếp gây độc cho sâu hại. Những chất dẫn dụ thường được sử dụng hỗn hợp với thuốc trừ sâu để thu hút côn trùng di chuyển tập trung đến nơi có phun thuốc khiến cho côn trùng nhiễm thuốc tăng cao, từ đó làm tăng hiệu quả của thuốc trừ sâu.
Ví dụ: Dùng chất dẫn dụ Methyl eugenol chiết từ cây hương nhu hỗn hợp với thuốc trừ sâu (Regent) để diệt ruồi đục trái trên mốt số cây ăn trái, hoặc chế phẩm Vizubon D.
Những chất xu đuổi có tác dụng xua đuổi côn trùng, chất này chưa được sử dụng phổ biến trong công tác bảo vệ cây trồng.
Những chất Pheromone khi sử dụng trên đồng ruộng khiến cho những côn trùng trưởng thành không bắt cặp, giao phối được. DO vậy chúng không sinh sôi phát triển được.
1.2.8 Thuốc trừ sâu khác:
Ngoài ra, còn một thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ khác có hiệu lực trừ sâu tương đối an toàn đối với môi trường như : Trebon, Confidor (Gaucho), Regent; Hoặc một số thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật, có hiệu lực trừ sâu tốt, an toàn đối với người, cây trồng và môi trường như: Fortenone (chế từ rễ cây thuốc cá).

culanluasg
16-10-2009, 11:35 PM
2. Thuốc trừ bệnh cây:
2.1 Tác dụng của thuốc trừ bệnh cây:
Thuốc trừ bệnh có 2 tác dụng chủ yếu:
- Phòng ngừa: Thuốc có khả năng ngăn chặn không cho vi sinh vật (nấm bệnh, vi khuẩn,…) xâm nhập và phát triển vào bên trong cây trồng. Nhưng thuốc này phải được phun sớm, để đến khi nấm và vi khuẩn xâm nhập vào trong cây trồng thì thuốc không có khả năng ngăn cản bệnh phát triển.
Ví dụ: Oxyclorua đồng, Monceren,Daconil,…
- Trị bệnh: Thuốc có tác dụng bao vậy, tiêu diệt các tác nhân gây bệnh trước hoặc trước khi chúng đã xâm nhập vào cây. Thuốc có khả năng xâm nhập, lưu dẫn bên trong mô thực vật và diệt được nấm bệnh đang phát triển bên trong mô cây.
Ví dụ: Aliette, Anvil, Ridimil,…
Có loại thuốc chỉ có tác dụng đối với một nhóm hoặc một vài loại nấm bệnh nhất định. Nhưng cũng có loại thuốc chỉ tác động đến nhiều loại vi sinh vật gây bệnh khác nhau.
2.2. Phân loại các nhóm thuốc trừ nấm:
- Thuốc trừ nấm vô cơ gồm các thuốc trừ nấm đồng (Oxyclorua đồng, sunfat đồng); chứa lưu huỳnh (Zeineb, Manacozeb, Sunlfur 95 D).
- Các thuốc trừ nấm hữu cơ: Aliette, Anvil, Bavistin,…
- Các thuốc trừ nấm kháng sinh: Validacin, Kasumin,…
3. Thuốc trừ cỏ:
3.1 Tác dụng của thuốc trừ cỏ:
- Tác dụng tiếp xúc: Thuốc huỷ diệt các mô cây cỏ trực tiếp tiếp xúc với thuốc. Do đó, các chất này chỉ có tác dụng làm chết các phần ở trên mặt đất của cỏ dại. Thuốc chỉ có tác dụng đối với cỏ hàng niên, không hiệu quả đối với loại cỏ có thân ngầm trong đất.
Ví dụ: Propannil, Gramoxone,…
- Tác dụng nội hấp hay lưu dẫn: Khi xử lý thuốc được hấp thụ vào cây, di chuyển đến khắp các bộ phận làm thay đổi trạng thái sinh học của cỏ ( thân giòn, giảm khả năng quang hợp,…) cuối cùng cây cỏ sẽ bị chết. Thuốc trừ được cỏ hằng niên và lưu niên.
- Tác dụng chọn lọc: Khi dùng theo đúng liều lượng, đúng phương pháp thuốc có tác dụng tiêu diệt các loại cỏ dại mà không ảnh hưởng đến cây trồng.
- Tác động toàn diện: Khi sử dụng thuốc gây hại tới tất cả cây trồng xung quanh.
- Thuốc dùng trước khi cỏ mọc: Đó là thuốc được dùng trước hay sau khi cây trồng được gieo cấy nhưng trước khi cây cỏ non mọc.
- Thuốc dùng sau khi cỏ đã mọc: Đó là thuốc dùng phun lên bộ lá của cỏ sau khi cây trồng đã mọc khỏi mặt đất.
3.2. Phân loại các nhóm thuốc trừ cỏ:
- Thuốc nhóm Clo hữu cơ gồm: 2,4D; MCPA 80BHN;…
- Thuốc nhóm Carbamat gồm: Sarturn; Satunil;… không được pha Satunil với các thuốc khác có gốc lân hữu cơ, gốc Carbamat khác.
- Các thuốc thông dụng khác như: Ronstar 25EC;Sirius 10WP; Sofit 300ND; Whip’S; Basta 15SL;…
4. Thuốc chuột:
4.1. Tác dụng của thuốc chuột:
Các loại hóa chất diệt chuột có tác dụng gây độc cho chuột qua đường ruột, đường hô hấp và gây độc qua da chuột, cuối cùng giết hết chuột.
4.2. Phân loại các thuốc chuột:
- Phosphur kẽm ( tên khác Fokeba,Zinphos 20%): thuốc có tác dụng qua đường tiêu hóa, làm rối loạn hoạt động của chuột và chết sau khi ăn 90 phút.
- Bromadiolon: Có dạng viên màu hồng, thuốc có tác dụng chậm, khoảng 1-2 ngày, sau khi ăn chuột mới chết. Do vậy thuốc có tác dụng khu vực rộng, không làm chuột hoảng sợ.
- Thuốc chuột dạng chế phẩm sinh học.
5. Chất kích thích sinh trưởng:
Là chất được dùng với lượng nhỏ, làm tăng quá trình sinh trưởng của cây trồng. Có nhiều loại kích thích sinh trưởng.
- Thuốc kích thích ra rễ được dùng vào nhân giống cây trồng.
- Thuốc kích thích ra hoa được dùng vào việc kích thích cây trồng ra hoa tập trung, hoặc hoa ra trái vụ, tăng hiệu quả trong sản xuất.
- Thuốc kích thích phát triển thân, lá, …
- Thuốc tăng đậu trái
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều chất kích thích sinh trưởng cây trồng rất mới và thường không công bố công thức của sản phẩm đa số là tên thương phẩm của sản phẩm như: Atonik, Dekamon, HQ 201, HQ 202, PAC 88 và một số chất kích thích còn ở dạng chai nhỏ đơn giản (kích thích ra rễ, ra hoa,…) trên mỗi loại sản phẩm thường được hướng dẫn sử dụng rất kỹ từ nồng độ đến thời điểm phun thích hợp.
V. NỒNG ĐỘ - LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG:
1. Nồng độ:
Là tỉ lệ giữa lượng thuốc cần dùng để pha trộn với một đơn vị thể tích, trọng lượng của nước, hạt giống, không khí. Đơn vị tính của nồng độ là nồng độ phần trăm (%), gr/lít; gr/m2,…
Ví dụ: Dùng Bassa ở nồng độ 0,3% để trị rầy nâu, lượng thuốc cần pha cho một bình 8 lít là:
0,3ml thuốc - có trong 100ml nước
x ? ml thuốc - có trong bình 8 lít = 8.000ml.
Vậy lượng thuốc cần là: x= (0,3 x 8000)/100 = 24 ml/bình 8 lít.
2. Liều lượng:
Là lượng dùng cho một đơn vị diện tích. Đơn vị tính bằng kg/ha; lít/ha; gr/m2. Tuỳ theo gai đoạn sinh trưởng của cây, tán cây, mật độ gây hại mà sử dụng lượng thuốc nhiều hay ít.
3. Các sử dụng:
3.1. Hỗn hợp thuốc: Để tiết kiệm số lần phun thuốc ta có thể phối hợp thuốc với nhau để phun xịt thuốc một lần mà vẫn đảm bảo hiệu lực thuốc trừ địch hại:
- Đối với thuốc trừ sâu: Nhóm Carbamat thường hỗn hợp với nhóm lân hữu cơ và thảo mộc, nhóm pyrethriod với nhóm thảo mộc.
- Thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh tổng hợp hóa học có thể hỗn hợp với chất kích thích sinh trưởng cây trồng.
- Thuốc trừ sâu sinh học không hỗn hợp được với thuốc có nguồn gốc kháng sinh.
- Khi hỗn hợp hai hay nhiều loại thuốc với nhau thì nồng độ của mỗi loại thuốc được giữ nguyên như khi dùng riêng.
- Không được pha thuốc với loại thuốc có gốc đồng.
- Các hỗn hợp thuốc pha trộn phải dùng ngay.
3.2. Nguyên tắc 4 đúng:
3.2.1 Đúng thuốc:
Chọn đúng loại thuốc để diệt đúng đối tượng dịch hại. Vừa đạt hiệu quả cao mà ít ảnh hưởng đến môi trường, người và vật nuôi. Không nên phối hợp nhiều loại thuốc có cùng tác dụng để phun, vì làm tăng chi phí và dễ bị tương tác thuốc làm giảm hoặc mất hiệu lực của các thuốc được phối hợp.
3.2.2. Đúng lúc:
Sử dụng thuốc có hiệu quả cao khi các đối tượng gây hại ở giai đoạn bắt đầu phát triển, lúc sâu còn nhỏ hoặc nấm bệnh mới xuất hiện. Do đó cần theo dõi thường xuyên cây trồng.
Mặt khác không nên phun thuốc lúc trời nắng gắt (giữa trưa), lúc trời mưa và tránh phun lúc hoa đang nở (đang thụ phấn). Nên phun tốt nhất vào sq1ng sớm hặc chiều mát, trời không mưa.
3.2.3. Đúng cách:
Đối tượng gây hại tấn công cây trồng ở đâu phải phun thuốc ngay nơi đó hoặc nơi côn trùng gây hại trú ẩn.
3.2.4. Đúng liều lượng:
Chỉ cần dùng một liều lượng thích hợp theo hướng dẫn để diệt đối tượng gây hại, dùng ít hơn sẽ không diệt được dịch hại, dùng nhiều hơn khuyến cáo sẽ rất tốn kém, ảnh hưởng đến cây trồng, ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ con người và tạo điều kiện kháng thuốc các sâu bệnh càng nhanh hơn.
Ngoài ra, phải đảm bảo ***** lượng nước thuốc phun trên một đơn vị diện tích. Thông thường 4-5 bình phun 8 lít/công, hoặc tuỳ tán cây trồng mà phun đều thuốc trên cây.

culanluasg
16-10-2009, 11:38 PM
3.3. Biện pháp an toàn:
Để phòng ngừa nhiễm độc thuốc trừ sâu trong sản xuất và bảo quản cần đảm bảo các điều sau.
3.3.1 Cất giữ và vận chuyển:
- Cất giữ tại nhà phải có kho riêng biệt và sắp xếp ngăn nắp.
- Nhà kho chắc chắn, cao ráo xa nhà và xa nguồn nước sinh hoạt, không được dùng chung với kho lương thực.
- Khi vận chuyển không được chở chung với người, gia súc và các loại nông sản.
3.3.2 Chuẩn bị sử dụng:
- Khi sử dụng cần biết tính năng, độc tính của thuốc và biết phòng nhiễm độc khi phun thuốc.
- Những người tiếp xúc với thuốc không nên quá 6 giờ/ngày.
- Những người sau đây không nên đi phun thuốc: Phụ nữ mang thai, đang cho con bú, đang có kinh nguyệt, trẻ em dưới 15 tuổi, người giá yếu, người có chân tay mụn, nhọt, ghẻ lở.
- Kiểm tra bình phun trước khi phun, các công việc cân đong không được dùng vào việc khác.
3.3.3 Trong và sau khi phun, rải:
- Phải sử dụng trang bị bảo hộ lao động: Khẩu trang, găng tay, quần áo bảo hộ.
- Không được ăn, uống, hút thuốc lúc phun, rải thuốc.
- Không trực tiếp quấy thuốc bằng tay, phun thuốc tránh đi ngược gió, không được phun thuốc giữa trưa nắng gắt và lúc gió mạnh. Trong khi phun thuốc nếu bị thuốc bắn vào mặt mũi, phải rửa ngay, thuốc đổ vào quần áo phải thay ngay, nếu thấy mệt phải nghỉ để người khác thay thế.
- Những bao bì dùng hết phải đốt hoặc chôn. Su khi phun thuốc phải tắm giặc bằng xà bông.
- Việc thu hái nông sản được tiến hành sau lần phun cuối cùng, trung bình 20-25 ngày để tránh độc hại cho người sử dụng.

Bài của Sở Nông nghiệp và PTNT nông thôn Kiên Giang

khietcsc
17-10-2009, 04:43 PM
Cái khó ở đây là đối với những người mới chơi như em, chưa biết nhìn cây nên việc bón phân cũng chưa đúng thời điểm và liều lượng chưa hợp lý.
Bác Culanluasg có thể đưa mẫu cây lên, càng nhiều loại càng tốt và cho biết dùng loại phân gì, liều lượng bao nhiêu, số lần tưới trong tuần, môi trường xung quanh và nhiệt độ... cũng như tưới tắm cho từng mẫu thì tuyệt.
Nếu bác chưa rảnh thì em post trước mấy cây mẫu lên, sau đó bác tư vấn cho biết cách chăm sóc cụ thể để nó phát triển tốt được ko ạ?